Nhớ thương ngày tháng cũ

30/1/2023 - Điểm đến
Tác giả: PHẠM XUÂN VINH

Nắng hanh hao vàng, gió se se lạnh buổi mai. Lại sắp hết năm. Trời sắp tết rồi! Lòng bỗng bâng khuâng. Cái không khí những ngày cuối năm cứ chập chờn, bập bồng, đưa ta về một miền ký ức ngày nào xa tít tắp.

 

Miền ký ức của tôi là ngôi nhà cũ rong rêu, tường vôi loang lổ…
Trong miền ký ức của mình, tôi hay bắt gặp hình ảnh ngôi nhà cũ rong rêu, tường vôi loang lổ. Bây giờ đã lập gia đình rồi, có một ngôi nhà riêng nho nhỏ, một chốn đi về yên ấm, nhưng không hiểu sao, tôi vẫn luôn nhớ về căn nhà cũ, nhất là vào những ngày cuối năm, thời khắc mà mọi công việc đã xong, chuẩn bị đón năm mới.
Nhà thì nhỏ bé, đơn sơ trong xóm lao động nghèo.Trước nhà có một mảnh sân bé tí, nhưng mẹ tôi vẫn trồng được nhiều thứ: có một giàn mướp, một cây ổi, một cây mai tứ quý và một hàng rào mồng tơi xanh mướt. Cây mai già cỗi mọc ở góc vườn, khẳng khiu, gân guốc nhưng năm nào cũng ra rất nhiều bông, nở vàng rực một khoảng sân. Sau ngày mẹ tôi mất, chẳng hiểu sao cây mai cũng héo úa dần, dù tôi ra sức tưới tắm, bón phân, nhưng làm cách nào thì mỗi ngày nó cũng oặt ẹo, khô héo rồi chết.
Khoảng sân này cũng là nơi gắn bó tôi với biết bao nhiêu kỷ niệm. Thuở bắt đầu biết mơ mộng vẩn vơ, chiều chiều tôi với lũ bạn vẫn thường ra ngồi trên bậc thềm ngoài sân chơi đùa, đàn hát, tán gẫu… đợi ngắm những cô gái xóm đạo đi lễ nhà thờ Tân Thành ngang qua. Thỉnh thoảng, buổi tối cô bạn học hàng xóm xinh xắn, dễ thương hay đến nhà chơi, trời mưa hai đứa ngồi dưới mái hiên, nép sát vào nhau, mà vẫn ngại ngần, không dám ngỏ lời, không dám nắm lấy tay nhau. Suốt cả buổi bên nhau, chỉ nói vu vơ, những điều vô nghĩa, chẳng đâu vào với đâu, bởi:
Tôi biết nói gì? Cả trăm phút đều thiêng
Hay muốn nói nhưng lòng mình ngường ngượng

          (Tuổi 13 - Nguyên Sa)
Bây giờ, cô ấy đã ở rất xa, cách nửa vòng trái đất. Mấy chục năm rồi, ngồi nhớ lại những rung động đầu đời này, tôi vẫn còn nghe thoang thoảng trong gió, hình như có mùi hương thơm ngọc lan từ mái tóc của người bạn gái năm nào!
Ký ức về ngôi nhà tuổi thơ cũng gắn liền với những gánh hàng rong trước ngõ của những người hàng xóm láng giềng thân quen. Bước ra khỏi nhà tôi vài bước là một ngã ba bán đầy hàng quà vặt. Buổi sáng là hàng bánh cuốn của bà trùm Nhượng, xe bánh mì bà Bảo, bún mọc chị Tâm. Buổi trưa có gánh canh bún của bà Yết; khoai lang, khoai mì hấp dừa của mấy cô con gái ông Nghiêm; gánh chè bà ba, chè thưng, sương sa hột lựu của con gái bà Năm Mè; cóc, ổi, xoài nhà bà Tào Thị; xe mía hấp, mía ghim của anh chị Khởi; bánh tráng kẹp mạch nha với dừa nạo của cô Tư... Buổi tối thì có khô mực, khô thiều, bánh đa nướng, thêm xe mì gõ… Chỗ ngã ba này cũng là nơi tụ họp, tán chuyện của những chàng trai, cô gái tuổi mới lớn trong xóm, nhờ vậy mà mấy gánh hàng rong tối nào cũng vui vẻ, rôm rả, đắt hàng.
Từ nhà tôi ra đến đường Phạm Hồng Thái (nay là đường Trường Chinh) có 2 quán cà phê, mà ngẫu nhiên 2 người chủ quán có ngoại hình trái ngược nhau, trông rất buồn cười! Một quán vừa bán cà phê vừa bán hủ tíu và mấy món nhậu bình dân của ông Tư Á, người to béo, có bà vợ phốp pháp, đẫy đà, nhìn 2 vợ chồng cứ y như là “trời sinh một cặp” vậy! Một quán của ông Hai Gạo, ông này ốm nhom ốm nhách, còn bà vợ cũng mảnh khảnh, hom hem chẳng khác gì chồng, bán xe bánh mì trước cửa mỗi buổi sáng!
Giữa 2 quán cà phê này là tiệm cơm tấm sườn bì chả của bà Tám. Không biết bà tên gì, người ta cứ quen gọi là “bà Tám cơm tấm”. Tóc bà bạc trắng, miệng luôn nhai trầu, xỉa thuốc, trông rất đẹp lão. Cơm tấm của bà thì ngon có tiếng. Sáng sớm, trời còn mờ sương đã thấy người lao động, thợ hồ, thợ xây, xích lô, ba gác… đến ăn rất đông, ngồi kín mấy dãy bàn thấp lè tè. Còn đối với đám trẻ con tụi tôi, thì cơm tấm là món điểm tâm cao cấp, hiếm khi được ăn. Thỉnh thoảng, bố mẹ cho tiền ăn sáng, cũng chỉ đủ để ra gọi một dĩa cơm tấm bì, chan nước mắm mỡ hành với đồ chua, ăn hết dĩa cơm vẫn còn thòm thèm!
Quán cơm tấm bà Tám rất đơn sơ, dựng ở giữa bụi tre lớn và một cây đa cổ thụ. Những buổi sáng mùa đông, người ta đốt đống un dưới gốc tre, khói của đống un quyện với sương buổi sớm và khói bếp của quán cơm tấm tạo thành một khoảng không gian lung linh sương khói là hình ảnh ấn tượng, ấm áp mà cư dân trong xóm không thể nào quên được.
 

Thời gian dâu bể, những người muôn năm cũ, không biết bây giờ ở đâu! Tôi về chốn cũ chỉ còn thấy mỗi cô Tam, người có thâm niên hơn 40 năm ngồi bán hàng dưới gốc cột điện ở cuối xóm nhà thờ Tân Thành. Hồi đó, cô bán các loại khô: khô mực, khô đuối, khô nai, các loại bánh, khoai và… đủ thứ hàng lặt vặt khác. Cô dễ tính lắm, ai mua thiếu cũng bán. Ngồi suốt ngày ngoài đường, buôn bán vất vả, mệt mỏi nên cô hay ngủ gà ngủ gật, có khi cô đổ tiền ra nón đếm, rồi ngủ lúc nào không hay. Bây giờ cô già yếu lắm rồi, không buôn bán được nữa. Nhà cửa không có, cô phải đi ở trọ. Nhìn cô tóc bạc trắng, bước mệt mỏi, liêu xiêu đi trong bóng chiều nhập nhoạng thấy thương quá! Xóm cũ thay đổi nhiều, đời sống đi lên, nhưng cũng không hiếm những phận người chìm khuất, long đong!
Những người bạn thời thơ ấu cùng xóm ngày xưa cũng trôi dạt, mỗi đứa một nơi, đứa còn đứa mất, đứa lưu lạc chẳng biết phương nào, những dịp hiếm hoi gặp lại nhau là kỷ niệm xưa, thuở “tà lỏn tắm mưa” cứ trở về rôm rả. Đến giờ mọi người vẫn không quên được chuyện anh Cường (con bác Tráng), hồi nhỏ rất nghịch ngợm, chuyên đi phá làng phá xóm, bị bố đánh cho một trận tơi tả, rồi lột quần bắt quỳ trước sân nhà. Mấy bà, mấy cô cùng trang lứa U70 với nhau, gặp anh Cường vẫn kể đi kể lại chuyện này, rồi lăn ra cười! Trẻ trâu thì quậy phá vậy đó, nhưng khi trưởng thành anh lại sống rất đàng hoàng, tử tế, được lòng bà con lối xóm. Giờ ở nước ngoài, đã lớn tuổi, nghỉ hưu, bản thân bệnh tật vậy mà anh vẫn thường xuyên gởi tiền về giúp đỡ những người trong xóm nghèo khó, cơ nhỡ, lá lành đùm lá rách. Đợt dịch Covid năm rồi anh cũng chuyển tiền về nhờ anh em thiện nguyện mua lương thực, thực phẩm, rau củ quả đem đi hỗ trợ bà con xóm cũ và cả những nơi khó khăn khác.
 

 
Là dáng mẹ tảo tần, lặn lội sớm hôm…
Trong miền ký ức, mọi thứ có lúc cũng nhạt nhòa, mờ phai đi, nhưng hình bóng mẹ tảo tần, lặn lội sớm hôm, cứ chập chùng trong nỗi nhớ. Mẹ tôi suốt đời cơ cực, nhọc nhằn. Hiếm khi mẹ có được một ngày vui, hạnh phúc trọn vẹn. Thời chiến tranh, đất nước chia cắt, mới mười tám tuổi, mẹ đã theo bố tôi di cư vào miền Nam, còn ông bà ngoại và anh chị em đều ở lại miền Bắc. Ngày thống nhất, tưởng rằng được đoàn tụ, gặp gỡ những người thân yêu trong gia đình, thì mẹ lại nhận được tin ông bà ngoại qua đời đã lâu rồi. Nén vào lòng nỗi đau, một mình mẹ chịu đựng. Buổi tối, đợi cho cả nhà ngủ hết, một mình mẹ ngồi khóc tức tưởi bên ngọn đèn dầu leo lét. Tiếng khóc nhỏ, bị kìm nén, uất nghẹn như những mũi dao nhọn cắt vào lòng. Thế rồi, cuộc sống với biết bao nhiêu là lo toan, và gánh nặng gia đình cứ chất chồng, đè mãi trên vai nên đến cuối đời mẹ vẫn chưa một lần được trở lại quê nhà để thắp cho ông bà ngoại tôi một nén nhang tưởng nhớ!
Thời buổi khó khăn, mẹ gồng gánh nuôi đàn con nhỏ. Tôi nhớ, mỗi lần đến kỳ đóng tiền học là mẹ lại bảo: “Con qua nội mượn đỡ mấy cô đi rồi ít bữa mẹ đi bán có tiền trả sau!”. Mỗi sáng, lúc trời còn tờ mờ, mẹ đã dậy để nấu xôi cho kịp gánh đi bán.Trước khi ra khỏi nhà, mẹ gói cho anh em tôi mỗi đứa một phần xôi, rồi gọi tôi dậy để đóng cổng. Ở dưới chậu xôi có một cái bếp lửa để hâm xôi lúc nào cũng nóng. Mẹ đi, cái bếp cứ đỏ lửa cháy nhấp nháy trong màn sương sớm. Hơi nóng của bếp lửa ấy cũng xua bớt đi phần nào cái giá rét, lạnh lẽo, sưởi ấm mẹ những buổi sáng mùa đông. Hôm nào trời mưa bão, mẹ quàng thêm 1 tấm nylon quanh cổ che mưa, rồi vẫn bươn bả quang gánh đi bán, chẳng nghỉ bữa nào. Vai oằn nặng gánh, mẹ tất tả đi trong màn mưa mờ mịt như thân cò đơn độc, lặn lội bờ sông vắng, lầm lũi kiếm thức ăn về nuôi đàn con nhỏ dại. Tiếng rao và bếp lửa đỏ cứ nhỏ dần, nhỏ dần… Mẹ gánh xôi đi xa rồi tôi vẫn đứng tần ngần dõi nhìn theo mãi! 
Có một nỗi niềm ân hận, day dứt khôn nguôi là khi anh em tôi khôn lớn, trưởng thành, có thể chăm sóc cho mẹ tử tế, yên ấm, an hưởng tuổi già, bù đắp cho mẹ những vất vả ngày qua thì mẹ đã không còn nữa! Tóc trên đầu lấm tấm hoa râm, tôi lại ao ước được trở thành thằng bé năm nào, để mỗi sáng dậy sớm mở cổng cho mẹ gánh xôi đi bán, rồi đợi đến trưa muộn ra đầu ngõ ngóng mẹ về. Bây giờ, mỗi lần ăn xôi là tôi lại bùi ngùi nhớ mẹ. Xôi mẹ nấu, với tôi vẫn là món xôi ngon nhất mà tôi từng được ăn!
Thời gian cứ thế lặng lẽ, miệt mài trôi, cuốn đi bao nhiêu buồn vui, muộn phiền đời người. Không ai níu được thời gian hay đi ngược dòng về quá khứ, nên giữa bao ngổn ngang bộn bề của cuộc sống, tôi vẫn hay ngậm ngùi, thương nhớ những ngày xưa!
 
Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 200

Các tin khác