Thuận thế để tương ứng, tương cầu

25/11/2025 - Tư vấn phong thủy
Tác giả: Bài ThS. KTS HÀ ANH TUẤN Ảnh KHÁNH PHƯƠNG

“Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” là câu thành ngữ Hán Việt (*) hay dùng khi dẫn luận về sự cộng hưởng, đồng cảm và tương tác giữa những gì có cùng bản chất hoặc tần số dao động. Trong văn hóa kiến trúc, chuyện tương ứng, tương cầu cũng gần với câu “Ở chọn nơi, chơi chọn bạn”.

 
Theo góc nhìn Đạo học - Phong thủy - Thiền học, thì “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” biểu hiện cho nguyên lý cộng hưởng năng lượng: Vật - người - cảnh nếu hòa hợp về “khí” thì sinh cát lợi, nếu trái ngược thì sinh xung khắc. Trong tổ chức không gian sống, khi vật liệu, ánh sáng, bối cảnh, khí hậu, và tâm thế, thể chất con người “đồng khí”, ngôi nhà sẽ mang lại cảm giác an hòa, sống động, gắn kết. 
 
Nhà ở dạng Thổ Lâu vòng tròn trong kiến trúc cổ Trung Hoa
 
Từ “Tứ Hợp Viện” nơi nhà xưa Trung Hoa và kiểu nhà sân trong thời nay 
Khái niệm “đồng thanh tương ứng” đã xuất hiện trong các nghiên cứu lịch sử kiến trúc từ những ngôi nhà tròn xưa gọi là Thổ Lâu cho đến kiểu nhà có tên gọi “Tứ Hợp Viện” nổi tiếng. Với kiến trúc truyền thống Trung Hoa, cấu trúc của Tứ Hợp Viện mang ý nghĩa hội tụ, thu hút Dương quang (ánh nắng mặt trời), Tàng Phong (lưu gió) và Tụ Thủy (nước mưa, độ ẩm) qua sân trong mà theo triết lý Âm Dương trong phong thủy, đó là Tiên Thiên Khí thu về trung tâm, rồi từ đó Hậu Thiên Khí mới tỏa ra. Các dãy nhà chung quanh sẽ bao bọc, hướng nội, cùng “quay mặt về trung tâm”, dùng không gian Thiên Tỉnh (天井) này là nơi hội tụ của không khí - ánh sáng - sinh hoạt. Hình thể khép kín (tứ hợp) ấy tạo nên “khí quy trung” tức là tụ khí vào giữa, làm nên “đồng thanh tương ứng” giữa các phòng ốc, các mái, các cửa… mà người xưa quan niệm Trung Cung là nơi “thiên - địa - nhân” giao hòa. Cấu trúc này cũng thể hiện quan niệm “Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng” biểu hiện qua bốn khối nhà xung quanh là bốn tượng phát triển ra tám hướng (Bát Quái), tạo nên một mô thức mang tính cân bằng nguyên thủy giữa con người và vũ trụ. Vậy nên kiến trúc cổ Trung Hoa cổ đánh giá Tứ Hợp Viện không chỉ là hình thái cư trú, mà còn là nơi “khí tương ứng, tâm tương cầu”.
Từ góc nhìn nhân văn - triết học soi chiếu vào không gian nhà ở hiện đại, có thể thấy: Việc bố trí sân trung tâm (dù nhà ở nơi khác, có các biến thể do tính chất địa phương) luôn là “trái tim” của mọi hoạt động như gặp gỡ, trò chuyện, chỗ thờ cúng, ăn uống, trồng cây, hứng nước mưa… mang tính cộng hưởng và kết nối. Những nếp nhà quây quần trong dạng bố trí không gian này vừa hòa hợp với nhau, vừa liên kết với bao cảnh, trời đất. Đây chính là biểu hiện cụ thể của “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” kết nối nhiều hoạt động riêng lẻ vào một vùng không gian đồng nhất, hợp thể, và theo mô thức từ tâm tỏa ra.
 
 
Tứ Hợp Viện, sơ đồ bố cục không gian và các biến thể xưa, nay
 
Đến biến thể phong phú của nhà Việt ba miền
Tất nhiên cũng dễ nhận ra tính chất khí hậu của các vùng phương bắc Trung Hoa khá phù hợp với cấu trúc nhà Tứ Hợp Viện: Giúp giữ hơi ấm mùa đông, tỏa bóng mát mùa hè, ngăn ngừa đạo tặc, giảm thiểu xung sát từ ngoài vào như bão cát, gió lạnh… Nhưng khí hậu Việt Nam chúng ta so với vùng Hoa Bắc có nhiều khác biệt. Việt Nam nhiệt đới, mưa nhiều, gió mùa mạnh, nắng gay gắt, thời lượng bức xạ chiếu xuống công trình lớn, độ ẩm cao, sông ngòi kênh rạch nhiều… nếu ở nhà kiểu Tứ Hợp Viện (vốn hợp khí lạnh khô của bắc Trung Hoa) rất dễ tù túng, nóng bức khi đóng kín. Vì thế, người Việt chọn làm nhà mở thoáng ra thiên nhiên, chứ không “quây khí lại”. Từ đó có thể thấy một triết lý “đồng - tương” được diễn giải và vận dụng theo cách khác. “Đồng khí tương cầu” ở đây không phải là tụ khí vào giữa, mà kích hoạt cho khí luân chuyển, lưu thông qua lại các không gian để cùng “hít thở” với trời đất.
Một số đặc điểm khác làm nên biến chuyển “đồng khí” của nhà Việt, đó là giao tiếp xã hội Việt truyền thống gắn với làng - họ - xóm, nên nhà không quây kín như “tiểu thành trì” kiểu Tứ Hợp Viện. Mỗi nếp nhà ba gian, chữ Đinh, chữ Công… của làng quê Việt là một tế bào vừa đóng vừa mở. Đóng là cấu trúc mái vươn rộng để ngăn mưa tạt, nắng hắt và tăng khoảng đệm dung hòa chênh lệch nhiệt, còn mở là ít làm tường đặc kín mít mà dùng hệ cửa đóng mở linh hoạt, nhiều ít theo gió mùa.
Tính mở còn biểu hiện qua liên kết với tổng thể: Trước có sân, sau có vườn, cạnh có ao, chênh chếch các bên có không gian nhà và vườn hàng xóm cũng mở ra tương hợp như nhà mình. “Đồng khí tương cầu” cũng không dừng ở gia đình, mà kết nối với cộng đồng, qua ngõ-giếng- đình-chùa-ruộng. Nói cách khác, người Việt không chỉ “đồng khí” trong nhà mình, mà “đồng khí” trong làng, trong tổng thể sinh thái - nhân sinh. Cách ứng xử này chịu ảnh hưởng sâu sắc của tín ngưỡng tôn trọng, sùng bái tự nhiên, dung nạp đa văn hóa, coi trọng sự mềm mại, linh hoạt, nói nôm na là “dĩ hòa vi quý”, thiên về hòa khí, hơn là đột khởi cách biệt, khép kín âm u, ngăn chặn phong bế.
 
 
Cấu trúc bán mở tạo nên hàng hiên, sân bên, chái bếp… phong phú trong cấu trúc nhà truyền thống Việt
 
Như vậy, “đồng khí tương cầu” dưới lý giải của văn hóa Việt là hòa hợp chứ không phải chỉ tập trung hội tụ trong một “lõi” cấu trúc vật lý, cho dù hệ trục trung tâm, không gian thờ cúng tổ tiên, phân biệt tôn ti, trái phải trước sau… của nhà Việt vẫn mạch lạc quy củ. Thông qua hệ thống hiên - sân - vườn - ao - ruộng - làng làm nên một chuỗi “cộng hưởng khí” liên hoàn, giúp con người đồng khí với trời đất, đồng bộ với làng xóm. Nhìn rộng ra về tư tưởng, cách một dân tộc ăn ở thể hiện không chỉ qua giải pháp xây nhà, mà là góc nhìn nhân sinh. Người Việt ta đa số không muốn “tích khí” mà chỉ “lưu khí” rồi “luân khí”, không xem mình là “cái rốn vũ trụ” nên không “chủ trị ở trung tâm” mà nhìn chung quanh để “đồng khí tuần hoàn”. Càng đi về phương Nam càng thấy người Việt sống trong “làng xóm mở” chứ không “thành lũy khép”.
 
Tùy quy mô và mức độ đầu tư, sân trong có thể rộng hẹp nhưng luôn là “lá phối” quý giá cho ngôi nhà Việt hiện đại
 
Ứng dụng trong không gian nhà ống hiện đại
Khi làng Việt dần đô thị hóa, không gian sống co hẹp, nhà liền thổ ngày càng có mặt tiền nhỏ, chiều sâu dài. Ngay cả khi còn ở nhà vườn rộng thoáng mà người Việt cũng không làm “tứ hợp viện”, thì khi qua nhà ống đô thị, cốt lõi tinh thần “trước mở - giữa lưu - sau thoát ” được áp dụng linh hoạt đến mức nào. Việc điều chỉnh cấu trúc nhà truyền thống ba gian ngang xoay dọc lại thành “nhà ống dài” là cách ứng xử rất phù hợp trong điều kiện đất chật người đông. Hãy nhìn nhà ống phố cổ Hội An, Hà Nội, hay nhà phố nhiều tầng thập niên 50-70 ở Sài Gòn-TP.HCM: Việc thông khí bằng “sân trong”, “giếng trời”, “cửa hậu” ra vườn nhỏ hoặc ngõ hẻm sau… đều rất tự nhiên và thông suốt. Dù hình thể diện tích biến đổi, tinh thần “đồng khí tương cầu” được giữ nguyên nếu biết bố trí giếng trời - sân trong - sân sau hợp lý. 
Nhìn theo góc độ phong thủy Lý Khí thì luồng khí cần thông - lưu - hoàn chứ không nên tụ - bế - tán. Nếu nhà đảm bảo ít nhất các khoảng không cho khí lưu và khí hoàn, thì dòng khí từ cửa chính (Minh Đường) sau khi vào nhà sẽ gặp khoảng thở (sân trong /giếng trời) để lưu chuyển lên cao rồi luân chuyển ra sau tạo nên dòng tuần hoàn hòa ngoại theo nguyên tắc vào nhẹ - chuyển êm - ra thoát, để vừa nuôi dưỡng không gian, vừa tránh tù bế (âm trệ). Vấn đề nằm ở năng lực thiết kế, xử lý của nhà chuyên môn cân nhắc tỷ lệ mở sân, tạo hiên, đóng mở mái cửa trời… sao cho hài hòa để “biến hẹp thành thoáng”, tạo chuỗi không gian - ánh sáng - khí động liên hoàn nhau. Những vật liệu mới nhưng biết dùng đúng chỗ sẽ giúp nhà dễ “thở” (như hệ lam, lưới, tường gạch hoa gió, cây xanh nội thất…) hơn là chỉ biết “khoét cái giếng to” sẽ hứng mưa và bụi, tiếng ồn và ô nhiễm, hay ngược lại “đóng kín cho chắc ăn” làm nên ngôi nhà như chiếc hộp ngăn chia kín mít.
 
 
Khi biết xem thiên nhiên là nhịp sống, không phải kẻ thù, thì các giải pháp nhà cửa sẽ đạt được tương ứng, tương cầu của tam tài Thiên - Địa - Nhân đồng hành, chính là Đạo sống Việt cần gìn giữ và phát huy. Đạo trong dân gian Việt chính là “thuận” chứ không “chế ngự” là sự hòa hợp của Thuận Thiên - Hợp Địa, và Hòa Nhân.
 
(*) Xuất phát từ triết học Á Đông - đặc biệt là trong Kinh Dịch và các trước tác của Khổng Tử và Mạnh Tử. Nghĩa đen: Đồng thanh là những âm thanh cùng loại, cùng cao độ hoặc cùng tần số thì sẽ vang ứng, cộng hưởng, hòa điệu với nhau. Tương tự với “đồng khí”, những khí chất, bản tính hoặc năng lượng giống nhau thì tự nhiên tìm đến nhau. Người cùng chí hướng, cùng tấm lòng có xu hướng tự nhiên gặp gỡ, kết thân. Nghĩa bóng nói về quy luật cộng hưởng tự nhiên trong vũ trụ và trong quan hệ con người. Môi trường, năng lượng và tâm thế mà ta phát ra sẽ thu hút những điều tương đồng quay trở lại. Trong xã hội, những người có cùng chí hướng, cùng lý tưởng, cùng tần số tâm hồn sẽ dễ dàng tìm thấy và đồng hành cùng nhau.
 
Tinh thần triết lý “thuận thế để tương hòa” có thể khai thác phong phú qua nhiều dạng cấu trúc nhà hiện đại
Theo Kiến trúc & Đời sống số 233

Các tin khác