Vật và nghề xưa

18/2/2026 - Điểm đến
Tác giả: Bài LƯƠNG MINH Ảnh TL

Ngày Tết, bên chén trà nhớ lại có nhiều vật ngày xưa mình dùng giờ không còn nữa. Nghề nghiệp cũng vậy, nếu ai còn giữ nghề cũ chắc thất nghiệp.

 
Những vật dụng xưa
Hồi còn học lớp tư (1960) đi học gia đình cho một đồng, uống ly xá xị mất 5 cắc. Xá xị chai BGI hay Phương Toàn con nai thì đừng có rớ, giá cao hơn, còn xá xị trong bình (giống như bình hồ lô nước mát trong Chợ Lớn) là nước xi rô được bơm hơi vô bình, có con chim miệng là robinet mở ra cho vào ly, bọt tràn giống như xa xị có gaz, chắc chắn là không ngon bằng xá xị chai nhưng cũng có cảm giác tương tự.  Mặt hàng thứ hai mà tôi nhớ là cà rem ống. Người làm đổ nước đường vô ống tròn bằng tôle, có bỏ que tre trong đó. Ống kem đặt trong thùng đá có bỏ muối tạo hổn hợp sinh hàn (dưới 0 độ) chất lỏng trong ống đông lại thành cây cà rem. Trẻ em mua kem thì người bán lấy ống kem đưa vào nước lạnh, cầm que tre rút ra trao cho khách. Loại này bây giờ không còn vì không ngon lại kém vệ sinh.
Đó là về ăn uống, còn giải trí có xe chiếu bóng thùng. Một thùng thiếc tối thui nhìn bên trong với 6 cái lỗ nhìn. Trên thùng là máy chiếu phim loại phim 8mm, phim tuồng hẳn hoi có cao bồi chạy ngựa, bắn súng rất hấp dẫn hay phim hề Charlot. Phim dài không tới 5 phút, giá cũng một đồng, người xem đưa tiền cho chủ “rạp”. Khi đủ vé thì bắt đầu chiếu, người xem đứng chung quanh thùng đưa mắt vào lỗ nhìn mà thưởng thức phim. Cả một “rạp chớp bóng” được chở trên chiếc xe đạp và khán giả chỉ có 6 người đứng hai bên và phía sau xe. Loại hình này lâu lắm không còn ở Việt Nam. Có lần du lịch Trung Quốc tôi còn thấy nó phục vụ cho du khách.
 

Ngòi viết lá tre và bình mực nguyên tử: Học sinh vào lớp năm (lớp 1) là phải dùng viết có ngòi chấm mực. Ngòi viết có nhiều loại, thông dụng nhất là viết lá tre, kế đó là ngòi viết muỗng, rồi mới tới ngòi viết rông để viết chữ kiểu đậm nhạt dùng viết tên thí sinh trong các văn bằng. Dùng ngòi viết thì phải chấm mực trong bình. Trẻ em đi học đem theo bình mực thường bị đổ, dơ tập vở, dơ áo quần nên nhà sản xuất chế ra bình mực không đổ, thời ấy thấy vậy là hay nên người ta phong tặng là bình mực nguyên tử.
Bảng giấy và bảng đá. Học sinh học viết chữ thì phải có phấn và bảng. Bảng đá và bảng giấy đều viết phấn, có thêm cái gối nhỏ cột dây vào bảng để lau khi viết xong muốn xóa. Bảng đá đen, đẹp nhưng dễ bể. Về sau nhà sản xuất chế ra bút mực xóa, không gây bụi phấn mất vệ sinh, hai loại bảng này mất hẳn.
Học sinh trung học, nhà trường buộc phải mặc sơ mi trắng, nữ sinh áo dài trắng.  Các áo này mặc lâu ngày thì úa vàng, để khỏi mặc áo màu ngà ngà, thì người dùng mua miếng hồ dương hiệu Nhảy Đầm, một xấp bên trong có 4 miếng, chỉ cần xé một miếng nhỏ bỏ vào thau nước là có màu xanh. Nhúng áo vàng úa vào thì áo trở nên trắng xanh, không còn cảm thấy áo cũ chứ thật ra áo không có trắng tinh như mới. Hồ dương bây giờ không có bán bởi áo mới, vải mới rẻ quá không cần dương nữa.
Bản nhạc tờ (còn gọi là nhạc bướm) tôi biết năm 1955 giá là 7 đồng, hơn tô hủ tíu. Nhạc tờ có 4 trang, hai trang trong ghi nhạc và lời, trang một là tên bản nhạc và nhạc sĩ có minh họa đẹp do họa sĩ Duy Liêm hay Kha Thùy Châu trình bày hay ảnh một ca sĩ nổi tiếng nào đó như Thanh Tuyền, Duy Khánh, Nhật Trường… Năm 1964 giá nhạc tờ còn 5 đồng, giấy mỏng hơn, có hiệu sách bán có 4,5 đồng vừa túi tiền với học sinh. Mua nhạc tờ để đàn vì có nốt nhạc, người không biết đàn mua để ca. Sau 1975, loại nhạc tờ không xuất bản nữa, tuy vậy giới lưu trữ vẫn còn và rao bán cho người sưu tập với giá 100 ngàn đồng/bản. Hiện nay nhà nào còn giữ thì cũng có tới vài chục bản.
 

Máy hát dĩa: Trong các máy nghe nhạc, máy hát dĩa ra đời sớm nhất. Giờ thì còn thấy trong các quán cà phê như vật trang trí chứ không sử dụng được. Máy hát dĩa thời đó khá đắt tiền, trong xóm chỉ có một nhà có và trẻ con tụ tập lại nhà đó để nghe tuồng cải lương hay 6 câu vọng cổ. Dĩa hát bằng than hay bằng nhựa loại 45 vòng hay 33 vòng. Loại hát dĩa xưa phải quay dây thiều nó mới chạy, lâu lâu phải quay thêm, không thì dĩa quay không nổi âm thanh kêu è... è. Đầu cần có loa nhỏ bên dưới gắn kim, kim chạy lâu bị mòn phải thay nên chơi máy hát cũng tốn tiền lắm. Sau này, nhà sản xuất có chế ra đầu kim bằng kim cương (?) không mòn, khỏi thay kim.
Thiết bị nghe nhạc sau máy hát dĩa là máy cassett, máy này ra đời khoảng năm 1963 do một người Hà Lan phát minh. Cassett làm mưa, làm gió một thời. Người ta ước lượng số băng sản xuất ra thị trường đến nay khoảng 100 tỷ băng. Ngày nay, người ta nghe nhạc trên máy tính, trên điện thoại thì casset bị lỗi thời, tuy nhiên giới sành điệu vẫn còn sưu tầm thiết bị này và có một số người sống về nghề sửa chữa, tân trang và sưu tập cassette cũ.
 
 
Những nghề không còn nữa
Trong thập niên 60, đội nón nỉ là sang nhất. Bây giờ nón nỉ vẫn còn người đội nhưng nghề giặt nón thì đã hết do người đội nón nỉ ít hoặc giá nón nỉ không đắt. Nón cũ thì bỏ, mua mới.
Phía sau trường Nam Tiểu học Vĩnh Long có hiệu Ba Liêng chuyên giặt nón nỉ. Nón cũ mình không tự giặt được phải nhờ tiệm giặt. Họ giặt xong, lật bề trái của nón để vô cái khuôn gỗ, ép xuống và dùng bàn ủi phẳng, xong thay dây băng mới và chà sạch, nhìn như nón mới mà tay ngang không có dụng cụ khó làm được.
Nghề thợ nhuộm: Ngày trước quần áo cũ hoặc dính mủ, dính máu giặt không phai, người dùng không muốn bỏ quần áo đó thì đem đến thợ nhuộm. Thợ nhuộm có tiệm ở phố hoặc đi khắp làng bằng quang gánh như gánh cháo, gánh chè. Trong gánh là nồi nước màu đen hay màu nâu để nhuộm. Nồi nước sôi nấu với mặc nưa hay hóa chất toàn màu đen hay màu nâu để nhuộm quần áo cũ. Thời ấy quần áo mặc cả năm mới sắm cái mới, cái nào cũ, nhuộm lại mặc được một thời gian nữa để tiết kiệm. Người thợ nhuộm không có rao hàng như các gánh chè, bánh trái mà có cái trống bỏi lắc nghe lung tung, lung tung, trong xóm ai có đồ cũ thì đem ra. Ở đồng bằng sông Cửu Long, ghe nhuộm chạy khắp các kinh rạch, ở trên bờ nghe tiếng trống lung tung, lung tung thì chạy ra kêu vô nhuộm đồ. Nghề nhuộm bây giờ không ai làm vì không còn ai nhuộm nữa, quần áo “sida” rẻ hơn công nhuộm rất nhiều.
Khi tôi về quê sống mà không có nghề chuyên môn, anh bạn giáo viên tặng tôi sách và đồ nghề sửa radio để tôi học và hành nghề. May là lúc đó tôi lười biếng nên không học, chứ không bây giờ cũng thất nghiệp. Radio thì còn dùng nghe nhạc chứ tin tức thì nghe TV hoặc xem trên ĐTDĐ, chỉ còn ít người nghe radio mà radio hư thì liệng chứ cái radio mới Trung Quốc sản xuất giá chỉ bằng 2 ly sinh tố. Tương tự, thợ sửa đồng hồ cũng vắng bóng, các tủ sửa đồng hồ thợ ngồi đó để thay pin, thay dây da đã cũ mà thôi. 
 

Năm 1997, có một phụ nữ làm montage cho báo Tài chính & Thị trường, tức dùng kéo cắt từng bài báo trên giấy bóng mờ dán vô tấm phim lớn trước khi đem đi nhà in. Việc cắt dán này cũng phải có họa sĩ phát họa trên tờ giấy, thợ motage coi theo đó mà trình bày. Sau này, việc trình bày được nhân viên làm trên máy vi tính, không qua khâu họa sĩ và người montage nữa, hai người này coi như thất nghiệp.
Sau năm 1975, ở Chợ Lách còn có một chiếc xe ngựa chạy từ Long Thới đến Chợ Lách, đoạn đường dài 10km. Bà con đi chợ thích đi xe này vì rẻ tiền, chuyên chở giường tủ rẻ hơn xe tải.  Năm 1998, tôi đi viết bài về chợ Bà Điểm thì thấy xe ngựa ở đây còn hoạt động, chở bà con trong vườn ra chợ bán nông sản, sau đó đến năm 2002 thì hết.  Bây giờ, muốn đi xe ngựa thì chỉ còn ở Đà Lạt, các khu du lịch chở du khách chứ bên ngoài thì bị cấm giao thông do không an toàn.
THEO KIẾN TRÚC & ĐỜI SỐNG SỐ XUÂN 2026

Các tin khác